THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

TIỆN ÍCH CỦA TÔI

Điều tra ý kiến

Theo bạn, Thọ Cương
Đẹp trai quá
Hơi đẹp trai
Nhìn không tệ
Xấu trai
Xấu quá

SELF-STUDY

Thi trắc nghiệm T.A

1

Liên Kết

Welcome

4 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > Thơ sưu Tầm >

    WISLAWA SZYMBORSKA – Giải Nobel 1996

     

     

     

    zymborska

     

    WISLAWA  SZYMBORSKA – Giải Nobel 1996

    Lâm Quang Mỹ dịch và giới thiệu

     

    Wislawa  Szymborska  sinh ngày  mồng 2 tháng 7 năm 1923 tại vùng Brino gần thành phố Pôznan, Ba Lan, trong một gia đình khá giả, có  người bố làm quản lí tài sản cho một nhà quý tộc. Nhưng người bố đã mất lúc bà mới 13 tuổi. Sau khi tốt nghiệp trường trung học, bà đã theo học khoa ngôn ngữ Ba Lan trường Đại học Tổng hợp Jagielonski ở Cố đô Krakov, sau đó chuyển sang khoa Xã hội học. Nhưng điều kiện kinh tế gia đình lúc đó không cho phép bà học tiếp đến tốt nghiệp.

     

     

    Bà bắt đầu thực sự gia nhập vào cuộc sống văn học từ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Theo hồi kí của bà thì người gây ấn tượng nhất về thơ đối với bà là Czeslav Milosz. Những bài thơ đầu tiên của bà được đăng trên báo „Tin hàng ngày ở Ba Lan”, sau đó là các tờ „Chiến đấu” và „Thế hệ”. Trong thời gian đó bà đã gắn liền với xu hướng văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nhưng vào năm 1949, tập thơ đầu tiên của bà „Sự khâu vá của những tiêu chuẩn” vẫn bị từ chối không được in ra vì lí do „không đảm bảo tính xã hội chủ nghĩa”. Cho đến 1952 cuốn thơ „Vì thế chúng ta đang sống” đã được xuất bản trong đó có những bài thơ viết về Lò luyện thép Mới và Lê-nin. Bà đã được kết nạp vào Hội Nhà Văn Balan. Bà cũng là đảng viên đảng Công nhân Thống nhất Balan đến năm 1966. Từ năm 1957 bà đã có mối quan hệ với tạp chí „Văn Hóa” ở Pari . Trong những năm 1953 – 1981 bà ở trong ban biên tập tạp chí „Đời sống Văn học” và đã phụ trách chương mục đặc biệt „Những bài ngoài trách nhiệm” của tạp chí này từ 1968. Những bài viết của mục này sau đó đã được tập hợp lại in thành sách.Từ 1981 đến 1983 bà là biên tập viên của tạp chí hàng tháng „Văn tự” ở Krakov.

      

    Szymborska không chỉ là nhà thơ, bà còn viết tiểu luận, phê bình văn học và dịch văn học Pháp.

     

    Thơ Szymborska mang tính trữ tình rất độc đáo . Nó là sự suy ngẫm rất tinh tế của trí tuệ, hàm chứa nhiều triết lí sâu xa, nhưng lại đầy cảm xúc. Bà đã sử dụng ngôn ngữ rất cô đọng, chính xác. Bà thường dùng những hình thức mỉa mai, châm biếm, đùa cợt, những nghịch lí trong thực tế cuộc sống để làm phong phú nội dung. Những đề tài thường gặp trong thơ bà mang tính chất của chủ nghĩa nhân đạo với sự phân tích các khả năng tồn tại của con người cá thể hoặc trong quần thể xã hội.

     

    Có thể nói rằng Szymborska là nhà thơ lớn có ít tác phẩm nhất. Với chỉ hơn hai trăm bài thơ không dài lắm của mình, bà đã  thuyết phục được hàng trăm triệu con tim độc giả và đưa tên tuổi mình lên đỉnh cao của nền thi ca thế giới.

      

    Năm 1991, bà được tặng giải thưởng Văn học Goeth, sau đó là giải Herder.

     

     Năm 1996, Hội đồng giải thưởng Nobel đã trao tặng bà giải thưởng cao quý đó với luận cứ có đoạn như sau: ”... Giải thưởng được trao tặng cho tác giả của những bài thơ, trong đó sự mỉa mai chuẩn xác cho phép văn cảnh lịch sử và sinh học được thể hiện trong những  khía cạnh thực tế cuộc sống con người...”

     

     

     

    MỘT SỐ NGƯỜI THÍCH THƠ

     

    Một số người – nghĩa là không tất cả

    Thậm chí còn là số ít nữa cơ

    Trừ chính các nhà thơ và các trường phải dạy

    Chắc hai phần ngàn có lẽ thích thơ

     

    Thích thật đấy, nhưng thích gì đấy nhỉ

    Thích xúp thịt với mì, thích lời lẽ tán dương

    Thích màu xanh, thích khăn quàng cũ kĩ

    Thích giữ ý kiến mình và ve vuốt chó dễ thương

     

    Thơ được thích là thế nào kia chứ

    Lời giải đáp có nhiều, nhưng chẳng chắc chắn chi

    Còn tôi đây, tôi đây không biết

    Tôi cứ bám vào, như bám cọc cứu nguy.

     

     

     

    NẤM MỒ

     

    Nằm lại chốn này là nữ tác giả của một ít bài thơ

    kiểu người cổ xưa như là dấu phẩy

    Dẫu thi hài không thuộc nhóm văn nào đấy,

    đất vẫn vui lòng dành một chỗ để yên giấc ngàn thu.

     

    Nhưng chẳng có gì hay hơn trên một nấm mồ

    ngoài bài thơ giản đơn này được ghép theo vần điệu,

    cây u-o-pan(*) và chú cú mèo(**).

     

    Hỡi khách qua đường

    hãy lấy ra bộ óc điện tử từ chiếc cặp mang theo

    và dành một vài giây suy nghĩ

    về số phận cuộc đời của Sym-bor-ska.

     

    (*) Một loài cây xanh có lá to, chỉ mọc nơi hoang dại.

    (**) Con vật chỉ hoạt động vào ban đêm và là biểu tượng của sự thông minh.

     

     

     

    BA T KỲ LẠ NHẤT

     

    Khi tôi phát âm từ Tương lai

    Âm tiết đầu tiên đã đi vào dĩ vãng

     

    Khi tôi nói lên từ Im lặng

    Tôi đã phá tan sự im lặng ấy đi

     

    Khi tôi bảo: Chẳng có gì

    Tôi đã tạo ra một thứ đang tồn tại

     

     

     

    CUỘC GẶP GỠ BẤT NGỜ

     

    Chúng ta đối với nhau rất là lịch sự,

    Chúng ta bảo rằng rất mừng khi gặp lại sau bao năm.

     

    Lũ hổ của chúng ta đang say sưa uống sữa.

    Đàn chim ưng của chúng ta đang rảo bước chân trần.

    Bầy cá sấu của chúng ta đang lặn sâu dưới nước.

    Những chú sói của chúng ta đang ngáp dài trong chuồng cửa mở toang.

     

    Bầy rắn độc của chúng ta đã vất đi những tia chớp,

    bọn khỉ vất bỏ hứng thú, đàn công vất bỏ bộ lông.

    Từ trong tóc chúng ta lũ dơi đã bay ra như ngày xưa ấy.

     

    Chúng ta im bặt giữa lưng chừng câu nói

    miệng mỉm cười vẫn không cứu nổi.

    Con người chúng ta không biết nói với nhau.

     

     

     

    ATLANTYDA (*)

     

    Họ đã sinh tồn hay chẳng sinh tồn.

    Ở trên đảo hay không trên đảo.

    Đại dương hoặc không phải đại duơng

    đã nuốt họ hoặc không nuốt họ.

     

    Có chăng ai để yêu ai đó?

    Có chăng ai để chiến đấu với ai?

    Mọi chuyện đã xẩy ra hoặc không xẩy ra

    Ở nơi đó hoặc không nơi đó.

     

    Đã có bảy thành phố

    Như thế thật ư?

    Muốn tồn tại thiên thu.

    Đâu là chứng cớ?

     

    Họ không phát minh ra thuốc nổ, không.

    Họ đã phát minh ra nó, có.

    Họ là những người được giả định. Những người đáng ngờ.

    Những người không hề được ghi trong trí nhớ.

    Không được sinh ra từ khí,đất, nước, lửa.

     

    Họ không được chứa trong đá

    cũng chẳng trong những giọt mưa.

    Họ không thể nào nghiêm chỉnh

    làm mẫu cho những lời cảnh báo.

     

    Một tảng thiên thạch đã rơi.

    Đó chẳng phải là thiên thạch.

    Một ngọn núi lửa đã phun.

    Chẳng phải là núi lửa đâu.

    Ai đó đã gọi gì đó.

    Không ai gọi một điều gì.

     

    Trên Atlantyda này bán tín bán nghi.

     

    (*) Tên một hòn đảo theo huyền thoại đã bị nhấn chìm từ xưa trên Đại Tây Dương


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Thọ Cương @ 21:07 14/05/2012
    Số lượt xem: 448
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến